Lời Chúa hằng ngày: Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (Ga 14,15-21)
“Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con
một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi”.
(Ga 14,16)
BÀI ĐỌC I: Cv 8, 5-8. 14-17
“Các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Philipphê đi xuống một thành thuộc sứ Samaria, rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cũng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm. Quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó cả thành được vui mừng khôn tả.
Khi các tông đồ ở Giêrusalem nghe tin Samaria đón nhận lời Thiên Chúa, liền gởi Phêrô và Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ngài cầu nguyện cho họ được nhận lãnh Thánh Thần: vì chưa có ai trong họ được nhận lãnh Thánh Thần, họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 65, 1-3a. 4-5. 6-7a. 16 và 20
Đáp: Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa! (c. 1)
Hoặc đọc: Alleluia.
- Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa! Hãy ca ngợi vinh quang danh Người; hãy kính dâng Người lời khen ngợi hiển vinh. Hãy thưa cùng Thiên Chúa: kinh ngạc thay sự nghiệp Chúa! .
- Toàn thể đất nước thờ lạy và ca khen Ngài, ca khen danh thánh của Ngài. Hãy tới và nhìn coi sự nghiệp của Thiên Chúa, Người thi thố những chuyện kinh ngạc giữa con cái người ta!.
- Người biến bể khơi thành nơi khô cạn, người ta đã đi bộ tiến qua sông, bởi đó ta hãy hân hoan trong Chúa! Với quyền năng, Người thống trị tới muôn đời. .
- Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến, hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết bao. Chúc tụng Chúa là Đấng không hất hủi lời tôi nguyện, và không rút lại lòng nhân hậu đối với tôi.
BÀI ĐỌC II: 1 Pr 3, 15-18
“Người đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.
Anh em thân mến, anh em hãy tôn thờ Chúa Kitô trong lòng anh em, hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em, nhưng phải làm cách hiền từ, kính cẩn, hãy có lương tâm ngay chính, để những kẻ lăng mạ đời sống đạo đức của anh em trong Đức Kitô, phải hổ thẹn về điều họ gièm pha anh em. Vì nếu Thiên Chúa muốn, thì thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác. Vì Đức Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta, Người là Đấng công chính thay cho kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa; thật ra Người đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại.
Đó là lời Chúa.
Tin Mừng: Ga 14, 15-21
15 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy.
16 Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi.
17 Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài; còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con.
18 Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con.
19 Một ít nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các con, các con thấy Thầy vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống.
20 Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con.
21 Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó”.
Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân
Giáo lý cho Bài giảng lễ Chúa nhật 6 Phục sinh năm A
WHĐ (13/5/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của các lễ Chúa nhật 6 Phục sinh năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
|
Số 2746-2751: Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly Số 243, 388, 692, 729, 1433, 1848: Chúa Thánh Thần là Đấng Bào Chữa Số 1083, 2670-2672: Việc khẩn cầu Chúa Thánh Thần Bài Ðọc I: Cv 8, 5-8. 14-17 Bài Ðọc II: 1 Pr 3, 15-18 Phúc Âm: Ga 14, 15-21 |
Số 2746-2751: Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly
2746. Khi đến Giờ của Người, Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha [1] . Lời cầu nguyện của Người, lời dài nhất được sách Tin Mừng lưu truyền, bao gồm toàn bộ Nhiệm cục tạo dựng và cứu độ, cũng như cả cái Chết và sự Phục sinh của Người. Lời cầu nguyện trong Giờ của Chúa Giêsu vẫn luôn còn là lời cầu nguyện của Người, cũng như cuộc Vượt Qua của Người, đã diễn ra “một lần cho mãi mãi”, vẫn luôn hiện diện trong phụng vụ của Hội Thánh Người.
2747. Truyền thống Kitô giáo gọi lời nguyện này một cách xác đáng là “lời nguyện tư tế” của Chúa Giêsu. Đây chính là lời cầu nguyện của Vị Thượng Tế của chúng ta, lời cầu nguyện này không thể tách rời khỏi cuộc hiến tế của Người, khỏi cuộc Vượt Qua của Người để về cùng Chúa Cha, trong đó chính Người “được thánh hiến” [2] trọn vẹn cho Chúa Cha.
2748. Trong lời cầu nguyện của cuộc Vượt Qua, của cuộc hiến tế này, mọi sự “được quy tụ” [3] trong Người: Thiên Chúa và thế gian, Ngôi Lời và xác phàm, sự sống vĩnh cửu và thời gian, tình yêu tự trao nộp và tội phản bội lại tình yêu, các môn đệ đang có mặt và những người sẽ tin vào Người nhờ lời của các ông, sự hạ mình và vinh quang. Đó là lời cầu nguyện của sự Hợp nhất.
2749. Chúa Giêsu đã hoàn thành toàn bộ công trình của Chúa Cha và lời cầu nguyện cũng như hy lễ của Người trải rộng tới lúc hoàn tất thời gian. Lời cầu nguyện trong Giờ của Người hoàn thành những thời buổi cuối cùng và dẫn đưa chúng đến chỗ hoàn tất. Chúa Giêsu, Người Con đã được Chúa Cha trao cho mọi sự, đã trao hiến trọn vẹn cho Chúa Cha và đồng thời Người tỏ ra mình hoàn toàn tự do [4] , nhờ quyền năng Chúa Cha ban cho Người trên mọi xác phàm. Người Con, Đấng đã trở thành Người Tôi Tớ, là Chúa, là Đấng Toàn Năng (Pantocrator). Vị Thượng Tế cao cả của chúng ta, Đấng cầu nguyện cho chúng ta, cũng là Đấng cầu nguyện trong chúng ta, và là Thiên Chúa, Đấng nhận lời chúng ta cầu nguyện.
2750. Khi đã thuộc về Danh thánh của Chúa Giêsu, chúng ta có thể đón nhận, từ bên trong, lời cầu nguyện chính Người dạy chúng ta: “Lạy Cha chúng con”. Lời cầu nguyện tư tế của Người, từ bên trong, gợi hứng cho những lời cầu xin quan trọng của kinh Lạy Cha: quan tâm đến Danh Cha [5] , nhiệt tình với Nước Cha (vinh quang [6] ), chu toàn Ý Cha, kế hoạch cứu độ của Ngài [7] và sự giải thoát khỏi sự dữ [8] .
2751. Cuối cùng, trong lời cầu nguyện này, Chúa Giêsu mạc khải và dạy chúng ta sự “hiểu biết” bất khả phân ly về Chúa Cha và Chúa Con [9] . Sự hiểu biết ấy chính là mầu nhiệm của đời sống cầu nguyện.
Số 243, 388, 692, 729, 1433, 1848: Chúa Thánh Thần là Đấng Bào Chữa
243. Trước cuộc Vượt Qua của Người, Chúa Giêsu báo tin sẽ sai đến một “Đấng Bào Chữa (Đấng Bảo Vệ) khác”, là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần, Đấng đã hoạt động trong công trình tạo dựng [10] và sau khi “đã dùng các Tiên tri mà phán dạy” [11] , nay Ngài sẽ đến với và ở trong các môn đệ [12] , để dạy bảo họ [13] , và dẫn họ tới “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Như vậy Chúa Thánh Thần được mạc khải như một Ngôi Vị thần linh khác, trong tương quan với Chúa Giêsu và với Chúa Cha.
388. Thực tại của tội lỗi cũng được làm sáng tỏ cùng với sự tiến triển của mạc khải. Mặc dầu dân Thiên Chúa thời Cựu Ước đã biết đến thân phận đau thương của con người dưới ánh sáng của việc sa ngã được thuật lại trong sách Sáng Thế, họ vẫn không thể nắm bắt được ý nghĩa tối hậu của việc sa ngã đó, ý nghĩa tối hậu này chỉ được biểu lộ dưới ánh sáng của cái Chết và sự Sống lại của Chúa Giêsu Kitô [14] . Cần phải nhận biết Đức Kitô là nguồn mạch của ân sủng, thì mới nhận ra ông Ađam là nguồn gốc của tội lỗi. Thần Khí bào chữa, do Đức Kitô phục sinh sai đến, đã đến tố cáo “thế gian sai lầm về tội lỗi” (Ga l6,8), khi Ngài mạc khải Đức Kitô là Đấng cứu chuộc trần gian.
692. Khi Chúa Giêsu loan báo và hứa rằng Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến, Người gọi Chúa Thánh Thần là “Đấng Bào Chữa” (Paracletus), hoặc sát chữ là “Đấng được gọi đến bên mình”, ad-vocatus (Ga 14,16.26; 15,26; 16,7). Paracletus cũng thường được dịch là “Đấng An ủi”, và Chúa Giêsu là Đấng An ủi thứ nhất [15] . Chính Chúa gọi Chúa Thánh Thần là “Thần chân lý” [16] .
729. Chỉ khi đến Giờ Chúa Giêsu phải được tôn vinh, Người mới hứa rằng Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến, vì cái Chết và sự Sống lại của Người sẽ là sự hoàn thành Lời đã hứa với các Tổ phụ [17] : Thần chân lý, Đấng Bào Chữa khác, sẽ được Chúa Cha ban nhờ lời cầu xin của Chúa Giêsu; chính Ngài sẽ được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu; Chúa Giêsu sẽ sai Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha mà đến, bởi vì Ngài xuất phát từ Chúa Cha. Chúa Thánh Thần sẽ đến, và chúng ta sẽ nhận biết Ngài, Ngài sẽ ở cùng chúng ta mãi mãi, Ngài sẽ cư ngụ với chúng ta; Ngài sẽ dạy dỗ chúng ta mọi sự và nhắc cho chúng ta nhớ tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói, và Ngài sẽ làm chứng cho Đức Kitô; Ngài sẽ dẫn chúng ta đến chân lý trọn vẹn và sẽ tôn vinh Đức Kitô. Còn đối với thế gian, Ngài sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính, và về việc xét xử.
1433. Khởi từ cuộc Vượt Qua, Chúa Thánh Thần tố cáo thế gian về tội lỗi, vì thế gian đã không tin vào Đấng [18] Chúa Cha đã sai đến. Nhưng cũng chính Chúa Thánh Thần, Đấng tố cáo tội lỗi, lại là Đấng An Ủi [19] , Đấng ban cho tâm hồn con người ân sủng để họ thống hối và hối cải [20] .
1848. Cũng như Thánh Phaolô quả quyết: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Nhưng để thực hiện công trình của mình, ân sủng phải vạch trần tội lỗi nhằm hối cải trái tim chúng ta và làm cho chúng ta “nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5,21). Cũng như thầy thuốc xem xét vết thương trước khi chữa lành nó, Thiên Chúa, nhờ Ngôi Lời của Ngài và Thần Khí của Ngài, chiếu ánh sáng sống động vào tội lỗi:
“Sự hối cải đòi buộc phải xác tín về tội lỗi; nó bao hàm một phán đoán từ bên trong của lương tâm, và điều này là bằng chứng về sự hành động của Thần chân lý trong hữu thể thẳm sâu của con người, và đồng thời cũng là khởi điểm của việc ban tặng mới của ân sủng và tình yêu: “Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần”. Như vậy, trong việc xác tín về tội lỗi, chúng ta nhận ra một hồng ân kép: hồng ân về chân lý của lương tâm và hồng ân về sự chắc chắn của ơn cứu chuộc. Thần chân lý là Đấng an ủi” [21].
Số 1083, 2670-2672: Việc khẩn cầu Chúa Thánh Thần
1083. Như vậy, chúng ta hiểu được chiều kích kép của phụng vụ Kitô giáo xét như lời đáp lại của đức tin và tình yêu đối với những lời “chúc lành thiêng liêng” Chúa Cha đã ban cho chúng ta. Một đàng, được kết hợp với Chúa của mình và dưới tác động của Chúa Thánh Thần [22] , Hội Thánh chúc tụng Chúa Cha “vì phúc lộc khôn tả Ngài ban” (2 Cr 9,15), bằng việc tôn thờ, ca ngợi và tạ ơn. Đàng khác, cho tới khi kế hoạch của Thiên Chúa được hoàn tất, Hội Thánh không ngừng dâng lên Chúa Cha “lễ vật là những hồng ân Ngài ban”, và cầu khẩn Ngài ban Thánh Thần xuống trên lễ vật này, trên chính Hội Thánh, trên các tín hữu và trên toàn thể trần gian, để, nhờ hiệp thông vào sự chết và sự sống lại của Đức Kitô-Thượng tế, và nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, những lời chúc lành này của Thiên Chúa đem lại hoa trái sự sống “để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta” (Ep 1,6).
2670. “Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). Mỗi khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện với Chúa Giêsu, thì chính Chúa Thánh Thần dùng ân sủng dự phòng của Ngài, đưa chúng ta vào con đường cầu nguyện. Ngài dạy chúng ta cầu nguyện khi nhắc chúng ta nhớ đến Đức Kitô, thì lẽ nào chúng ta lại không cầu nguyện với chính Ngài? Vì vậy, Hội Thánh mời gọi chúng ta cầu khẩn Chúa Thánh Thần mỗi ngày, nhất là khi khởi sự và kết thúc mọi hoạt động quan trọng.
“Nếu như Chúa Thánh Thần không đang được tôn thờ, thì làm sao Ngài thần hóa tôi bằng bí tích Rửa Tội được? Còn nếu Ngài đáng được tôn thờ, thì lẽ nào Ngài lại không được tôn thờ cách đặc biệt?” [23]
2671. Công thức truyền thống để xin Chúa Thánh Thần là kêu cầu Chúa Cha, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng ta, để Chúa Cha ban cho chúng ta Thần Khí An ủi [24] . Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lời cầu xin này nhân danh Người, khi Người hứa ban hồng ân là Thần Khí sự thật [25] . Nhưng lời cầu nguyện đơn giản và trực tiếp nhất theo truyền thống là: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến”. Mọi truyền thống phụng vụ đã khai triển lời nguyện ấy trong các điệp ca và thánh thi:
“Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, xin tràn ngập tâm hồn các tín hữu của Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong họ” [26] .
“Lạy Đức Vua thiên quốc, Đấng An ủi, Thần Khí sự thật, Đấng hiện diện khắp nơi và tràn ngập vạn sự, là kho tàng mọi điều thiện hảo và là nguồn mạch sự sống, xin ngự đến, xin cư ngụ trong chúng con, xin thanh tẩy chúng con sạch mọi vết nhơ và xin cứu độ linh hồn chúng con, lạy Chúa là Đấng nhân lành” [27] .
2672. Chúa Thánh Thần, mà dầu của Ngài thấm nhập toàn thể con người chúng ta, là Vị Thầy nội tâm của việc cầu nguyện Kitô giáo. Chính Ngài là Đấng kiến tạo truyền thống sống động của việc cầu nguyện. Quả thật, có bao nhiêu người cầu nguyện thì có bấy nhiêu đường lối cầu nguyện, nhưng cùng một Thần Khí hoạt động trong mọi người và cùng với mọi người. Trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần, kinh nguyện Kitô giáo là kinh nguyện trong Hội Thánh.
BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA – CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH NĂM A
Văn Việt (tổng hợp) 08/05/2026
Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các Thánh Lễ và các buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với các tín hữu vào Chúa nhật 6 Phục sinh năm A.
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Theo lời Ðức Giêsu, ai yêu mến Ngài và tuân giữ các mệnh lệnh của Ngài, thì được Chúa Cha ban Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là Ðấng phù trợ, an ủi. Người sẽ ở trong người ấy và dẫn đưa về cùng Chúa Cha và Chúa Giêsu.
Yêu mến là thực thi lệnh truyền của Chúa. Ðức Giêsu đã nhắc đến mệnh lệnh này nhiều lần... Người muốn dạy chúng ta: lòng tin và yêu mến không chỉ là lý thuyết, là tư tưởng suông nhưng phải được thực hành, đó mới là bằng chứng cụ thể. Vì đức tin không có việc làm là đức tin chết (Gc 2,17), và đức ái không có việc làm là đức ái vô ích, trống rỗng ngoài môi miệng (Mc 7,6).
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một đức tin mạnh mẽ và một lòng mến dồi dào. Khi chúng con nói được rằng chúng con tin vào Chúa và thực thi giới răn của Ngài, thì chúng con biết sống những điều đó bằng một đời sống cụ thể. Ðể cuộc sống của chúng con là một chứng từ sống động cho mọi người nhận biết Chúa. Amen.
Ghi nhớ : “Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác”.
Suy niệm (Lm Ignatio Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : Cv 6,1-7
Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ : “Vấn đề xảy ra trong cộng đoàn Ki-tô hữu non trẻ xem ra là một vấn đề nghịch lý so với sự thành công rực rỡ lúc bấy giờ.” Khi số các môn đệ thêm đông, thì sự hiệp nhất trở nên khó khăn ; tất cả các nhóm đang phát triển đều phải đương đầu với câu hỏi này : Làm thế nào để có thể hợp nhất khi số lượng tăng thêm, nghĩa là số người gia nhập ngày càng đông thêm, do có nhiều khuynh hướng khác nhau.
Thật ra, nếu suy nghĩ cho kỹ, thì chúng ta thấy khó khăn này đã xuất hiện vào buổi sáng ngày lễ Ngũ Tuần. Chúng ta đọc lại đoạn sách Công vụ Tông Đồ : “Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về.” Từ buổi sáng sớm ấy, có ba ngàn người trở lại sau bài giảng của thánh Phê-rô, rồi những năm tháng tiếp theo, số người trở lại càng nhiều hơn nữa, những người mới trở lại tất cả đều là người Do-thái, và có lẽ trong số đó là những người Do-thái đang sinh sống trong đế quốc Rô-ma, về Giê-ru-sa-lem để hành hương, mà tiếng mẹ đẻ của họ không phải là tiếng Do-thái hoặc A-ram, nhưng là Hy-lạp, ngôn ngữ phổ biến cho toàn vùng Địa Trung Hải. Cộng đoàn Ki-tô hữu non trẻ này sắp phải đương đầu với “một thách đố về ngôn ngữ”. Đây là một trở ngại rất lớn cho việc hợp nhất trong bất cứ cộng đoàn nào, vì tiếng mẹ đẻ luôn kèm theo cách suy nghĩ, cách ứng xử, tập quán khác nhau, quan niệm sống khác nhau, giải quyết vấn đề cũng khác nhau, nên tìm được sự hoà hợp giữa hai nhóm nói hai thứ tiếng khác nhau Do-thái và Hy-lạp là vô cùng khó khăn, mặc dầu đều là người Do-thái. Làm thế nào đây ? Và giọt nước tràn ly khi những người Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những người Do-thái bản xứ, khi phân phát lương thực hằng ngày, đã bỏ quên những bà goá trong nhóm họ (ở đây là vấn đề thiên vị). Sự bất hoà này ngày càng trầm trọng hơn và tới tai các Tông Ðồ. Phản ứng của các Tông Ðồ gồm 3 điểm :
1) Các Tông Đồ triệu tập toàn thể các môn đệ và đưa ra quyết định nhằm giải quyết vấn đề rắc rối trong cộng đoàn.
2) Các ngài cho cộng đoàn biết là các ngài chỉ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời của Thiên Chúa, chứ không thể bỏ việc rao giảng Lời Chúa mà lo việc ăn uống được.
3) Các ngài không hề do dự khi quyết định thành lập một tổ chức mới để phục vụ cộng đoàn, đó là các phó tế : những người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, đó là ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do-thái. Đây là những người do dân bình chọn và đưa ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.
Hãy luôn vững tin vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Trong mỗi hoàn cảnh cụ thể khác nhau, Chúa sẽ liệu cách nào tốt nhất và hữu ích nhất để giúp chúng ta.
2. Đáp ca : Tv 32
Thánh vịnh 32 là thánh vịnh ca ngợi Chúa Quan Phòng. Chúng ta cùng suy niệm thánh vịnh này : “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương.” Ở đây chúng ta khám phá ra một định nghĩa tuyệt đẹp về kiểu nói “kính sợ Chúa”. Theo nghĩa Kinh Thánh, kính sợ Chúa đơn giản là đặt tất cả niềm hy vọng của chúng ta vào tình thương của Người. Người tín hữu theo nghĩa Kinh Thánh là người luôn đầy tràn hy vọng ; vì đầy tràn hy vọng, nên dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, họ cũng bình an vì biết rằng “tình thương Chúa chan hoà mặt đất”.
Câu “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa” giúp ta hiểu câu tiếp theo “hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn” ám chỉ đến việc Chúa cứu dân Ít-ra-en thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập khi cho họ vượt qua Biển Đỏ mà vẫn ráo chân, rồi cho họ man-na và chim cút, nước uống thoả thuê lúc họ đói khát trong sa mạc. Lúc bấy giờ lời ca tụng phát xuất từ con tim của những người cảm nhận rõ nét sự quan tâm của Thiên Chúa dành cho họ : “Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa, kẻ ngay lành, nào cất tiếng ngợi khen.” Lời mời gọi ở đây là lời ca mở đầu của một nghi thức Phụng vụ tạ ơn. Trong thánh vịnh vừa nghe, ta biết được những nhạc cụ thường được sử dụng tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem vào các dịp lễ.
3. Bài đọc 2 : 1 Pr 2,4-9
* Chúa Giê-su, viên đá sống động
Thư thánh Phê-rô mời gọi chúng ta, các Ki-tô hữu hãy tiến lại gần Đức Ki-tô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Bức thư đề cập đến “ngôi Đền Thờ thiêng liêng” và một dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người. Trọng tâm của bức thư đề cập đến hành động của Thiên Chúa được Kinh Thánh nhắc lại : Thiên Chúa đã biến Đức Ki-tô thành viên đá góc để thực hiện ý định cứu độ của Người.
Khi đến gần viên đá “sống động” này mà các Ki-tô hữu, “những viên đá sống động” được tháp nhập vào việc xây dựng một ngôi đền thờ thiêng liêng. Đấng mà các Ki-tô hữu đến gần bị người đời loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa làm đá góc. Thiên Chúa đi tìm cái gì người đời vứt bỏ làm mái vòm cho công trình của Người. “Này đây Ta sẽ đặt ở Xi-on một phiến đá, phiến đá hoa cương, phiến đá góc vô giá làm nền móng vững bền.” Chúng ta đừng bối rối hoặc lo lắng vì Đức Giê-su Ki-tô bị loại bỏ, vì khi đến gần Người, chúng ta tham gia vào việc xây dựng mà chính Thiên Chúa làm kiến trúc sư.
Trong ngôi đền thiêng liêng này, không còn dâng hy tế như thời Cựu Ước nữa, nhưng dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Giống như dân Ít-ra-en xưa thực thi chức vụ tư tế vì ích lợi cho nhân loại : “Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,6) thì người Ki-tô hữu chúng ta thực hiện chức tư tế cộng đồng, trong Giáo Hội là một “cộng đoàn tư tế thánh, tư tế vương giả”.
Phần trọng tâm của đoạn này trích dẫn vài câu thánh vịnh. Chính ngày hôm nay mà Thiên Chúa đặt tại Xi-on một viên đá góc, đó là Đức Ki-tô chịu đóng đinh và phục sinh, cho nên những ai đặt niềm tin vào Người sẽ không phải thất vọng. Đối với các tín hữu, thánh Phê-rô đối chọi những người không tin với những người vâng theo lời Thiên Chúa. Những người không tin, thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho họ vấp ngã. Còn đối với những người tin là chúng ta đây, chúng ta “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã kêu gọi chúng ta ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền”.
4. Bài Tin Mừng : Ga 14,1-12
1) Những lời loan báo liên tiếp về việc ông Giu-đa phản bội : “Có một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Ga 13,21), về cuộc ra đi dứt khoát của riêng Người : “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi” (Ga 13,33) và về việc ông Phê-rô chối thầy : “Thầy bảo thật cho anh biết : gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần” (Ga 13,38). Do đó mới có lời Chúa Giê-su kêu gọi : “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” Tác giả Dufour viết : “Chúa Giê-su dựa trên niềm tin của người Do-thái là những người không bao giờ tự coi mình độc lập trong mối liên hệ với Thiên Chúa, Đấng ban cho mọi loài thụ tạo sự bền vững của đá tảng. Chúa cũng dựa trên niềm tin vào chính mình Người, nếu các môn đệ còn có thể theo Người, các ông phải dựa vào Chúa Giê-su như dựa vào chính Thiên Chúa. Vì thế, nếu Người có ra đi thì cũng chính là để trở lại nhà Cha, nơi Người sẽ dọn chỗ sẵn cho họ.”
2) Từ chủ đề “ra đi”, bài diễn từ sau Bữa Tiệc Ly của Chúa Giê-su chuyển sang “đường đi” : “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.” Chúa Giê-su nói với các môn đệ như thế, nên Tô-ma mới đặt vấn đề : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” Chúa Giê-su long trọng đáp lời : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Chúa Giê-su là con đường, bởi vì Người là sự thật và là sự sống, Chúa Giê-su là sự thật. Quả vậy, Người mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa, về Chúa Cha (12,45 ; 14,9) ; Người chỉ đường cho các tín hữu tới gặp Chúa Cha, Người cho thấy phải sống thế nào cho hợp ý Thiên Chúa. Chúa Giê-su còn mặc khải về chính mình và sứ mạng của Người đối với nhân loại. Con người ta đến, tin vào Đức Giê-su, lãnh nhận lời Người, giáo huấn của Người, rồi được thúc đẩy và được hướng dẫn đến với Chúa Cha. Đức Giê-su là con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha (14,6b). Đức Giê-su cũng là con đường, bởi vì Người là sự sống. Đường phải dẫn tới mục tiêu cuối cùng là sự sống sung mãn với Chúa Cha. Chúa Cha đã ban sự sống cho Đức Giê-su (5,26) và chỉ có Đức Giê-su mới có thể ban sự sống vĩnh cửu ngay ở đời này cho những ai tin vào Người (10,28). Người tín hữu mang nơi mình sự sống vĩnh cửu phải liên tục nhận sự sống đó từ Đức Ki-tô và cố gắng góp phần làm phát triển sự sống đó nơi mình cho đến khi đạt tới sự sống sung mãn nơi Chúa Cha.
3) Đức Giê-su bày tỏ Chúa Cha
Thấy vậy, ông Phi-líp-phê lên tiếng thưa : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha rồi.” Trọn cuộc đời, mọi lời nói và mọi việc làm của Đức Giê-su là một biểu hiện hoàn hảo hình ảnh Chúa Cha vì Người kết hợp mật thiết với Chúa Cha : “Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ?”
Chúa Giê-su tiếp tục hoạt động qua các môn đệ
Khi nhắc lại lời mời gọi tin tưởng trên, Chúa Giê-su bắt đầu mặc khải cho các môn đệ biết cuộc sống mới của các ông sẽ như thế nào : “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”
Ta thử nhìn vào đức tin gương mẫu của các tổ phụ để nhìn lại đời sống đức tin của tất cả chúng ta.
* Nhờ đức tin, ông A-ben đã dâng lên Thiên Chúa một hy lễ cao quý hơn hy lễ của ông Ca-in : nhờ tin như vậy, ông A-ben đã được chứng nhận là người công chính (Hr 11,4).
* Nhờ đức tin, ông Kha-nốc được đem đi nơi khác để khỏi chết, và người ta không tìm thấy ông nữa, bởi vì Thiên Chúa đã đem ông đi. Quả thật, Kinh Thánh chứng nhận rằng : trước khi được đem đi, ông đã làm đẹp lòng Thiên Chúa, mà không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa được (St 5,22-24).
* Nhờ đức tin, ông Nô-ê được Thiên Chúa báo cho biết những gì người ta chưa thấy ; vì có lòng kính sợ Thiên Chúa, ông đã đóng một chiếc tàu để cứu gia đình ông.
* Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu.
* Nhờ đức tin, khi nhìn về tương lai, ông I-xa-ác đã chúc phúc cho hai con là Gia-cóp và Ê-xau. Nhờ đức tin, khi sắp chết, ông Gia-cóp (Ít-ra-en) đã chúc phúc cho mỗi người con của ông Giu-se. Nhờ đức tin, ông Giu-se khi sắp lìa đời, đã nhắc lại cuộc Xuất hành của con cái Ít-ra-en và ra chỉ thị liên quan đến hài cốt của ông.
* Nhờ đức tin, lúc chào đời, ông Mô-sê đã được cha mẹ giấu trong ba tháng. Nhờ đức tin, ông Mô-sê, khi lớn lên, đã từ chối không chịu cho người ta gọi là con của công chúa Pha-ra-ô.
* Nhờ đức tin, tường thành Giê-ri-khô đã sụp đổ, sau khi dân Ít-ra-en đi vòng quanh trong bảy ngày. Nhờ đức tin, cô kỹ nữ Ra-kháp đã không phải chết, vì cô đã cứu các người lính trinh sát của Ít-ra-en.
* Cuối cùng, các thủ lãnh Ghít-ôn, Ba-rắc, Sam-sôn, Gíp-tác, Đa-vít, Sa-mu-en và các ngôn sứ, nhờ đức tin, các vị đó đã chinh phục các nước, thực thi công lý, đạt được những gì Thiên Chúa đã hứa.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con.
Tự vấn :
Khi gặp vô vàn khó khăn, khi phải đương đầu với những thử thách gian nan, chúng ta đã sống đức tin của mình như thế nào ?
BÀI ĐỌC THÊM
1. Thiên Chúa thật gần
(H. Vulliez, Desclée de Brouwer, 1992, tr. 61-62).
Khi Tin Mừng thứ tư được viết ra, chắc chắn “những biến cố” đã xảy ra hơn 60 năm, các cộng đoàn tín hữu ở Pa-lét-tin, Tiểu Á, và các nơi khác đã chịu rất nhiều đau khổ. Họ phải chịu những cuộc tấn công dai dẳng trong các vùng có người Do-thái. Họ đã bị chính quyền Rô-ma bách hại triền miên. Đặc biệt niềm tin của các Giáo Hội Tiểu Á lúc ấy đã rúng động trước những luồng tư tưởng cho rằng mình khiến người ta quá tin vào trời cao mà khinh chê trần thế, chỉ để ý đến tâm hồn mà coi thường thân xác, nhưng cuộc sống thế trần và sự Phục Sinh có đối nghịch đến độ phải khước từ cuộc sống này để sống cuộc sống kia không ? Chẳng lẽ cứ phải trải qua cái chết mới được phục sinh hay sao ?
Tác giả Tin Mừng nhấn mạnh : Người tín hữu đã sống cuộc sống phục sinh ngay trên trần thế này. Niềm tin vào Đức Ki-tô hằng sống đã xoá bỏ khoảng cách giữa những sự dưới đất và trên trời. Niềm tin ấy giúp người ta sống ngay trên trần thế cuộc sống vĩnh hằng của Thiên Chúa …
Chân lý thật khó hiểu và khó chấp nhận, cũng thế, Đức Giê-su, nhà sư phạm đại tài, để dẫn đưa người nghe vào trong ánh sáng của Thiên Chúa, đã lợi dụng sự cứng tin của các ông Tô-ma và Phi-líp-phê : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” Lầm lớn ! Đây không phải con đường tính được bằng ki-lô-mét. Khoảng cách giữa cuộc sống trần thế và cuộc sống phục sinh không lớn hơn khoảng cách giữa Chúa Cha và Chúa Con : “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy.”
Niềm hy vọng về điều đã có và chưa có sẽ triển nở và đâm bông trong lòng người tín hữu như vậy đó.
2. Hoàn cảnh của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Đức Giê-su và ngày Người trở lại
(“Célébrer”, số 258, tr. 34, tháng 3.1996).
Đâu là vị trí của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Đức Giê-su và ngày Người trở lại ?
Trước tiên, cộng đoàn tín hữu sống trong niềm hy vọng vô bờ một ngày kia sẽ được sống với Đức Giê-su trong nhà Cha Người : “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”, sau đó, họ biết được đường đi : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”, hơn thế nữa, họ còn biết được Chúa Cha, họ đã “thấy” Người : “Ai thấy Thầy, là thấy Chúa Cha.” Thấy Đức Giê-su, dĩ nhiên là biết được Người bằng niềm tin, là “nhận ra” Người là Con duy nhất, là lời sáng tạo vĩnh hằng đến độ khi Đức Giê-su nói, tôi biết rằng Người nói những lời của Chúa Cha. Khi Đức Giê-su hành động, chữa lành, tha tội, phó mình cho đao phủ, tôi biết rằng Người làm theo ý Chúa Cha và Chúa Cha đã chữa lành, tha tội, tự hiến hoàn toàn qua Người, tôi biết Cha và Con là “một”.
Như vậy, cộng đoàn tín hữu đã thật sự biết Đức Giê-su bằng đức tin, đến lượt mình có thể nhận biết Chúa Cha và hoàn thành những công việc của Người được không ? Được, Đức Giê-su nói thế và còn hơn thế nữa, “vì Thầy đến cùng Chúa Cha”. Qua những lời này, ta có thể hiểu rằng Đức Giê-su Phục Sinh đã mặc lại trọn vẹn sức mạnh siêu nhiên mà Người đã tự giới hạn khi mặc lấy thân phận tôi đòi, mặc lấy nhân tính. Cũng vậy, một khi đã được mời gọi tiếp tục sự nghiệp của Chúa Giê-su trên trần gian, cộng đoàn các Tông Đồ, bằng đức tin của mình, thật sự thông phần với Thiên Chúa. Họ là cộng đoàn những người con trong Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa.
Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
Sợi chỉ đỏ:
- Bài đọc I: Dân Samari được lãnh nhận Chúa Thánh Thần.
- Bài Phúc Âm: Chúa Cha sẽ ban cho tín hữu một Đấng phù trợ khác, đó là Chúa Thánh Thần.
- Bài đọc II: Cuộc sống lạc quan của người tín hữu vì đã có Chúa Thánh Thần giúp họ trong cảnh khó khăn, thù hằn của thế gian.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến,
Chỉ còn một tuần lễ nữa là đến lễ Thăng thiên. Phúc Âm hôm nay thuật rằng trước khi Đức Giêsu lên trời, Ngài đã hứa gởi Chúa Thánh Thần đến với chúng ta để giúp chúng ta chu toàn sứ mạng mà Ngài đã giao cho chúng ta, tức là loan báo Phúc Âm khắp thế giới. Chúng ta đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong ngày được Rửa tội và Thêm sức. Nhưng chúng ta có ý thức Ngài đang ở trong chúng ta không, và có nghe theo sự hướng dẫn của ngài không ?
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Mặc dù đã được rửa tội nhân danh Đức Giêsu và được thêm sức trong Chúa Thánh Thần, thế mà chúng ta vẫn sống một cuộc sống tầm thường không hơn những kẻ chưa được rửa tội bao nhiêu.
- Kitô hữu là người mang hy vọng, thế mà nhiều khi chúng ta để mình bị rơi vào thất vọng.
- Chúa Thánh Thần là Đấng phù trợ luôn bênh vực chúng ta. Nhưng chúng ta thường sợ hãi như không có Ngài.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I: Cv 8,5-8.14-17
Bị đuổi khỏi Giêrusalem do cuộc bách hại mà những người do thái phát động chống các kitô hữu, phó tế Philíp lánh sang miền Samari. Ông dùng dịp này để loan Phúc Âm Đức Giêsu Kitô cho dân Samari. Nhiều người Samari đã xin lãnh nhận phép rửa. Hoạt động truyền giáo của Philíp đã có tiếng vang đến tai các tông đồ, nên ít lâu sau, chính Phêrô và Gioan đích thân đến Samari và đặt tay xin Thánh Thần xuống trên các tân tòng Samari.
2. Đáp ca: Tv 65
Khi hồi tưởng biết bao ơn lành mà Thiên Chúa đã ban cho mình, dân Israel vui mừng cất tiếng tung hô Ngài và còn kêu mời cả trái đất hợp tiếng tung hô nữa.
So với dân Israel, dân kitô hữu chúng ta còn được Thiên Chúa ban nhiều ơn lành hơn gấp bội. Lẽ nào chúng ta không cất tiếng tung hô Ngài ?
3. Bài đọc II: 1 Pr 3,15-18
Bức thư 1 Pr do Thánh Phêrô gởi cho các tín hữu đang bị bách hại vì đạo Chúa để chỉ dạy họ cách làm chứng niềm tin giữa hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ấy:
- Khi người ta chất vấn về niềm tin của mình thì hãy sẵn sàng trả lời. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng.
- Phải sống tốt lành theo lương tâm ngay thẳng, khiến cho cuối cùng chính những kẻ bách hại cũng phải xấu hổ vì đã đối xử tệ với các tín hữu.
4. Bài Phúc Âm: Ga 14,15-21
Trước khi đi vào cuộc chịu nạn chịu chết, Đức Giêsu an ủi các môn đệ. Ngài sẽ không bỏ các ông bơ vơ như những đứa con mồ côi, nhưng Ngài sẽ ban cho họ một Đấng phù trợ khác đến ở với họ luôn mãi, đó là Chúa Thánh Thần.
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Có một người thổ dân (Aborigine) ở châu Úc, sống trong một hoàn cảnh thật thảm thương. Ông ta đã cao niên nhưng từ bao năm tháng ông chỉ một thân một mình cô đơn trong túp lều tối tăm xiêu vẹo. Lần đầu Mẹ Têrêsa tới thăm ông, thấy cảnh bề bộn thiếu vệ sinh vì không được chăm sóc, Mẹ đề nghị: “Ðể tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường chiếu lại cho ông”. Ông hờ hững nói: “Tôi đã quen sống như vậy rồi”. Nhưng Mẹ bảo ông: “Tuy vậy, ông sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp”.
Sau cùng, ông ta bằng lòng để Mẹ dọn dẹp lại nhà cửa cho ông. Trong khi quét dọn Mẹ Têrêsa thấy một cái đèn cũ, đẹp nhưng phủ đầy bụi bẩn. Mẹ hỏi ông: “Có bao giờ ông thắp đèn này không ?”. Ông ta trả lời với giọng chán ngán: “Nhưng thắp đèn cho ai ? Có ai bước chân vào nhà này bao giờ đâu. Tôi sống ở đây đã lâu rồi mà chẳng hề trông thấy một ai cả”. Mẹ Têrêsa hỏi ông: “Nếu như các nữ tu đến thăm ông thường xuyên, ông có bằng lòng thắp đèn lên không ?”. Ông vui vẻ đáp: “Dĩ nhiên rồi”.
Từ hôm đó, các nữ tu Thừa sai Bác ái của Mẹ Têrêsa quyết định mỗi chiều sẽ ghé qua nhà ông viếng thăm. Cũng từ đó, người thổ dân bắt đầu thắp đèn và dọn dẹp căn lều cho sạch sẽ hơn.
Ông sống thêm hai năm nữa. Trước khi chết ông nhờ các nữ tu nhắn tin cho Mẹ Têrêsa: “Xin nhắn với Mẹ Têrêsa và các bạn, ngọn đèn mà Mẹ đã thắp lên trong đời tôi vẫn còn chiếu sáng. Ðó chỉ là một việc nhỏ, nhưng trong bóng tối cô đơn của đời tôi, một tia sáng đã chiếu lên và vẫn còn tiếp tục sáng mãi”.
Suy niệm
Giữa lúc các môn đệ mất niềm hy vọng, cô đơn không biết nương tựa vào ai khi nghe lời cáo biệt của Thầy (x. Ga 13,31-38), Chúa Giêsu đã thắp ánh lửa hy vọng bằng việc khích lệ các ông: Đã sống theo Thầy, hãy vững niềm tin. Đã đặt niềm hy vọng vào Ngài, và đã yêu Ngài với một con tim của một người môn sinh thì hãy sống Lời Ngài truyền, đặc biệt là giới răn yêu thương (x. Ga 13,34). Các tông đồ không còn đơn côi nữa vì Thầy luôn hiện diện bên họ khi các ông sống di ngôn tình yêu, mà sau này thánh Gioan đã cảm nghiệm: “Thiên Chúa là tình yêu”, tình yêu hiện diện trong điều răn yêu thương. Thầy ra đi, nhưng khi di ngôn Thầy được sống trọn, đó là sự hiện diện của chính Thầy, chính Chúa... Niềm hy vọng sẽ được lên sáng hơn nữa, khi Ngài hứa xin Cha gửi Thần Chân lý - Đấng Bảo Trợ sẽ đến đồng hành với các ông trong mọi biến cố cuộc đời.
Lời Thầy luôn vang lên “nếu con yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy” (Ga 14,15), đó là sống yêu thương như thánh Grégôriô le Grand đã khẳng định: “Bằng chứng của tình yêu là chứng nhân qua những công trình. Không bao giờ tình yêu của Thiên Chúa cư ngụ trong nhàn rỗi. Khi tình yêu hiện hữu, tình yêu luôn làm những sự việc lớn lao” (Homélie XXX).
Tin Mừng Ga 14,15-21 vẫn trong mạch văn những lời từ biệt các môn đệ (x. Ga 13 - 17), Ngài ra đi nhưng vẫn mong sao các đồ đệ giữ lấy niềm tin, giữ lấy cuộc sống giữa những thử thách sắp tới. Dù không có Ngài, Ngài muốn các môn sinh của mình cùng ngăn nắp, cùng gắn bó với nhau và với sứ vụ như vẫn có Thầy hiện diện. Thầy hiện diện với họ qua các di ngôn: sống tình yêu, và chính Đấng Bảo Trợ mà Ngài gửi đến để đồng hành với các ông.
Ý của Thầy đã thế, phần còn lại là ở các môn sinh có làm theo lời di ngôn hay không, có “giữ các lời của Thầy.”.. có tiếp nhận Đấng Bảo Trợ sẽ đến. Giữ các lời Thầy truyền như là làm cho tâm hồn đầy đủ “dầu đèn” và khơi lên niềm hy vọng, Đấng Bảo Trợ sẽ đến thêm sức cho các ông, tăng niềm tin, niềm hy vọng. Niềm hy vọng sẽ không còn mong manh như lời hứa, nhưng là mạnh mẽ, đầy sức sống. Hình ảnh đó hiện thực rõ nét nhất trong ngày lễ Ngũ tuần (x. Cv 2,1-4), niềm hy vọng sẽ vực dậy tất cả nơi người môn đệ theo Chúa...
Hãy giữ các lệnh truyền của Thầy, lệnh Thầy truyền là hãy yêu và thực hành. Tin vào Thầy mà không làm theo Thầy thì đức tin đó không có sự sống vì đức tin không có việc làm là đức tin chết (x. Gc 2,17). Hơn nữa trong việc làm không có nội lực là đức ái mà Thầy đã truyền dạy, tất cả vô ích, trống rỗng, hiện hữu bên ngoài và mọi sự bằng không (x. 1Cr 13,1-4). Vì thế thánh Phaolô đã kết luận: “Hãy làm mọi sự vì đức ái” (1Cr 16,14) và đó chính là diễn giải di ngôn của Thầy: “Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy”.
Chính vì lẽ đó, lời từ biệt của Thầy không còn làm cho các môn đệ cảm thấy cô đơn trống vắng như ban đầu nữa, nhưng tràn đầy niềm hy vọng... vì di sản tình yêu và vì Đấng Bào Chữa sẽ đến...
Qua mọi thời kể từ hai ngàn năm, lời biệt ly của Thầy vẫn đồng hành với các môn đệ cũng như là đồng hành với nhân loại. Xưa các tông đồ và nay chúng ta đón nhận và thực hiện di ngôn của Thầy: Mệnh lệnh tình yêu và mở lòng mình ra chờ đợi Đấng Bào Chữa đến trong tâm hồn để cùng sống mầu nhiệm vượt qua cuộc đời, tràn ngập hy vọng mà Đức Kitô đã đốt lên khi Ngài ra đi...
Ý lực sống
“Bằng chứng của tình yêu là chứng nhân qua những công trình. Không bao giờ tình yêu của Thiên Chúa cư ngụ trong nhàn rỗi. Khi tình yêu hiện hữu, tình yêu luôn làm những sự việc lớn lao” (Thánh Grégôriô le Grand).
Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)
YÊU MẾN VÀ GIỮ LỜI CHÚA
A. DẪN NHẬP
Thi sĩ Xuân Diệu nói: “Đố ai định nghĩa được tình yêu”. Đúng thế, cho đến nay chúng ta chưa có được một câu định nghĩa nào về tình yêu khả dĩ có thể bao hàm được mọi khía cạnh của tình yêu.
Thi sĩ Hồ Dzếnh cũng chỉ nói được như thế:
Yêu là khó nói cho xuôi,
Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh”.
Thánh Gioan cũng chỉ có thể nói: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta” (1Ga 13,7).
Đức Giêsu chỉ khuyên người ta yêu nhau mà không hề định nghĩa tình yêu là gì, vì Ngài không muốn dùng đến những từ ngữ hay những tư tưởng trừu tượng mà chỉ khuyên người ta thực hành tình yêu thôi.
Với những lời tạ từ trong bữa Tiệc ly, Đức Giêsu chỉ dùng những lời thân tình mà khuyên các môn đệ “Nếu các con yêu mến Thầy, các con hãy giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15). Nói như thế, Đức Giêsu không chấp nhận một thứ tình yêu trừu tượng, mông lung, hoa mỹ hoặc văn vẻ như trong tiểu thuyết, thi ca hay trong các nghệ thuật thứ bảy. Ngài muốn một tình yêu sinh động và cụ thể đối với Ngài và đối với nhau. Theo đó, tình yêu của chúng ta đối với Ngài là vâng phục theo đường lối của Chúa, tức là tuân giữ các điều răn Ngài truyền, vì chính Ngài đã yêu mến Chúa Cha bằng cách vâng phục và thi hành mệnh lệnh của Cha Ngài (Ga 15,10).
Kitô hữu đích thực là dồn tất cả tham vọng của mình vào việc mô phỏng theo Đức Kitô. Người ta thường nói: “Kitô hữu, đó là Đức Kitô khác”: “Alter Christus”. Không có định nghĩa nào chính xác và hay đẹp hơn. Khi đã theo Đức Kitô thì phải đi theo con đường khổ giá mà Ngài đã đi. Tuân theo thánh ý Chúa và giữ các điều răn của Đức Kitô là đang đi trên con đường khổ giá và con đường này sẽ dẫn chúng ta đến vinh quang.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Cv 8,5-8.14-17
Các tín hữu của cộng đoàn Giêrusalem bị các người Do thái bách hại đã lánh sang vùng Samaria của dân ngoại. Thầy phó tế Philipphê được sai đến rao giảng Tin mừng. Dân chúng hoan hỉ đón nhận Tin mừng này, và tiếng tăm đã đồn đến tai các Tông đồ. Các ngài liền cử ông Phêrô và Gioan đến đặt tay ban Thánh Thần cho họ, vì họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu.
+ Bài đọc 2: 1Pr 3,15-18
Thánh Phêrô gửi thư cho các tín hữu đang bị bách hại vì đạo Chúa, để chỉ dạy cho họ cách thức thể hiện niềm tin và hy vọng của mình trước mặt lương dân. Người ta sẽ chất vấn về niềm tin của họ, thì phải trả lời cho họ bằng hai cách sau đây:
a) Hãy trả lời cho họ bằng những lời lẽ ôn hoà và trong sự kính trọng.
b) Hãy ăn ở công minh chính trực khiến cho những kẻ bách hại phải xấu hổ vì đã bách hại.
+ Bài Tin mừng: Ga 14,15-21
Đức Giêsu biết trước việc Ngài ra đi sẽ làm cho các môn đệ xao xuyến, nên trước khi đi vào cuộc tử nạn, đã yên ủi các ông một cách chân tình. Ngài khuyên các ông hãy yên tâm, vì Ngài không để các ông sống chơ vơ như những đứa con mồ côi đâu, Ngài sẽ sai Đấng Phù trợ khác đến ở với họ luôn mãi. Đấng Phù trợ khác mà Chúa Cha sẽ ban cho đây, chính là Chúa Thánh Thần mà các ông sẽ được lãnh nhận vào dịp lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần sẽ làm cho các Tông đồ yêu mến Chúa và thi hành lời Ngài dạy.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Yêu nhau trăm sự chẳng nề
I. NHỮNG LỜI NHẮN NHỦ THÂN TÌNH
Trong bữa Tiệc ly, sau khi truyền cho các môn đệ phải yêu mến nhau và đặt việc yêu mến nhau như là dấu chỉ để mọi người nhận ra họ là môn đệ đối với Ngài. Mở đầu đoạn trích Tin mừng hôm nay theo thánh Gioan, Đức Giêsu nói: “Nếu các con yêu mến Thầy thì các con sẽ tuân giữ mệnh lệnh Thầy” (Ga 14,15).
Việc yêu mến đó được Đức Giêsu liên kết với việc tuân giữ và thực hành Lời Chúa. Những ai yêu mến Đức Giêsu và giữ Lời Ngài sẽ được ở trong cộng đồng tình yêu của Thiên Chúa: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ ra cho người ấy biết Thầy” (Ga 14,21).
Ở đây cho thấy Đức Giêsu không chấp nhận một thứ tình yêu trừu tượng, chỉ bằng tình cảm mông lung, Ngài chủ trương một thứ tình yêu sống động và được biểu lộ trong sự tuân phục theo đường lối của Chúa, tức là tuân giữ các giới răn Ngài truyền. Chính Đức Giêsu cũng đã yêu mến Chúa Cha bằng cách giữ các lệnh truyền của Chúa Cha (x. Ga 15,10).
Lúc này, chắc các môn đệ đã cảm nhận được những việc sắp xảy ra. Họ hẳn đã cảm nhận được chuyện bi thảm đang tới gần. Nhưng Đức Giêsu đã yên ủi họ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho các con một Đấng bầu chữa khác đến với các con luôn mãi… Thầy không để cho các con mồ côi đâu” (Ga 14, 16.18).
Từ ngữ “mồ côi” dùng ở đây có nghĩa là không có cha, từ ngữ này cũng được dùng để chỉ đám môn sinh, đám học trò mất thầy, mất đi những lời dạy bảo của thầy thân yêu. Lúc Socrate chết, Platon nói về các môn sinh của Socrate rằng: “Họ nghĩ họ sẽ phải sống mồ côi suốt quãng đời còn lại như những đứa con mất cha, và họ sẽ chẳng biết phải làm gì”.
Nhưng Đức Giêsu bảo các môn đệ rằng, trường hợp của họ thì không như thế. Ngài phán: “Thầy sẽ trở lại”. Ngài có ý nói về sự phục sinh và việc Ngài luôn có mặt bên họ sau khi phục sinh. Nhưng sự hiện diện của Ngài không thể dùng giác quan mà thấy, nhưng phải dùng con mắt đức tin bởi vì Ngài hiện diện một cách vô hình.
Sau cùng, Đức Giêsu kết luận: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy… và sẽ được Cha Thầy yêu mến” (Ga 14,21). Đây là một mạc khải của Đức Kitô về tình yêu của Chúa Cha. Mạc khải này cũng hé mở cho ta hiểu thêm về tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa thật thâm sâu, mật thiết trên mọi bình diện (x. Ga 4,34; 6,38).
II. YÊU NHAU SINH TỬ CŨNG LIỀU
1. Yêu mến và hành động
Đức Giêsu luôn yêu thương các môn đệ của Ngài cả khi Ngài vắng mặt. Ngài hứa không để cho các ông sống vất vưởng như những đứa con mồ côi, nhưng sẽ sai Đấng Phù trợ đến ở với các ông để yên ủi, soi sáng, khích lệ và nâng đỡ các ông. Đáp lại, Đức Giêsu cũng đòi buộc các ông phải yêu Ngài. Tình yêu đối với Ngài không phải chỉ là những tình cảm hay một cảm xúc bồng bột nhất thời, nhưng tình yêu này phải được xây dựng trên ý chí, nghĩa là phải vâng theo lời Ngài, phải thực hiện lời Ngài trong cuộc sống vì ngài đã nói rõ: “Nếu ai yêu mến Thầy thì sẽ vâng giữ lời Thầy” (Ga 14,23).
Chữ “nếu” đây không phải là một việc làm tuỳ nghi nhưng là một điều kiện thiết yếu, một điều kiện mà tiếng La tinh gọi là “conditio sine qua non”, không có không được. Từ ngữ “nếu” đây liên kết hai vế của “yêu Chúa” và “giữ lời Ngài”, hễ không có vế này thì không có vế kia. Giữ lời hay giữ giới răn không phải là một loạt những điều Tuỳ nghi trong nhiệt tình tình yêu của chúng ta hướng về Chúa Kitô. Đây thậm chí không phải là một điều logic: nếu tôi yêu mến Chúa Kitô, tôi phải giữ các giới răn của Ngài. Tiếng “nếu” liên kết chặt chẽ hơn lòng chúng ta yêu mến Chúa Giêsu với cách ăn ở của chúng ta trong cuộc sống: tôi chỉ yêu thương khi tôi vâng lời Ngài, bởi vì tình yêu thực sự, cụ thể của tôi chính là đều mà tôi làm. Nhưng thất bại của chúng ta có nguồn gốc tại đây: từ chối hiểu rằng tình yêu không phải là một từ, một giấc mơ, cũng như một nhịp đập của tim, mà là một cách cư xử (André Sève, Tin mừng Chúa nhật, năm A, tr 164).
Tình yêu phải thể hiện ra bằng việc làm cụ thể, chính việc làm ấy mới bảo đảm cho tình yêu thật. Nếu yêu mà không thể hiện bằng hành động thì tình yêu chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi, hay chỉ là một cảm xúc nhất thời. Hành động đó phải được thể hiện ra trước mặt người yêu để người ấy vui lòng, và hành động theo ý người mình yêu ngay cả khi người ấy không có mặt. Nếu không người ta sẽ nói:
Thương thương nhớ nhớ thương thương,
Nước kia muốn chảy mà mương chẳng đào (Ca dao)
Trong cuốn sách The Living Stone có một câu truyện như sau: Jonathan làm được những việc phi thường, phần lớn vì hấp thụ được từ vị thầy khả kính. Ngày vị thầy này sắp lìa trần, ông cho gọi Jonathan trở về để gặp thầy lần cuối. Jonathan hy vọng thầy sẽ truyền cho bí quyết đặc biệt mà suốt đời thầy còn cất giữ. Nhưng lời trăn trối cuối cùng của ông chỉ vỏn vẹn mấy chữ: “Hãy hành động vì lòng mến”.
Trong Tin mừng mà Giáo hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, Đức Giêsu trước khi giã biệt các môn đệ, Ngài cũng nhắn nhủ các ông về điều căn bản của lòng mến: “Ai nghe và vâng giữ giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Đức Giêsu không đòi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc cảm tính, dù rằng đó cũng là điều quí giá cho phép chúng ta tin tưởng rằng chúng ta đang yêu mến Chúa. Tuy nhiên một tình yêu đúng nghĩa là luôn tìm cách làm đẹp lòng người yêu, sẵn sàng cho đi tất cả, chứ không dừng lại ở những rung cảm của thân xác phần nào nói lên tính vị kỷ của mình (Mỗi ngày một tin vui, Phục sinh, tr 253).
Với thánh Gioan, chỉ có một cách để trắc nghiệm tình yêu thương là sự vâng lời. Đức Giêsu đã chứng minh Ngài yêu Chúa Cha bằng sự vâng lời. Ông Barett nói: “Thánh Gioan chẳng bao giờ cho phép biến tình yêu thành một thứ cảm xúc. Tình yêu được bộc lộ dưới tính cách đạo đức, bày tỏ ra bằng sự vâng lời”.
Chúng ta biết nhiều người chỉ yêu thương qua đầu môi chót lưỡi, đồng thời lại làm cho những người họ yêu phải đau đớn, khổ tâm. Có những thanh thiếu niên bảo chúng yêu thương cha mẹ, nhưng lại gây buồn khổ, lo âu cho cha mẹ. Có những ông chồng bảo yêu vợ, có những bà vợ bảo yêu chồng, nhưng lại hay cộc cằn, gắt gỏng, thô lỗ, nhỏ nhen, vô tâm vô tính, làm cho chồng hay vợ mình phải đau khổ. Với Đức Giêsu, tình yêu thương chân thật không phải là điều dễ dàng, tình yêu chân thật chỉ có thể chứng minh bằng “sự vâng lời chân thật”.
2. Hành động như thế nào?
Một người nọ đã từng trông thấy một thiên thần đi bộ xuống phố, tay cầm bó đuốc, tay kia cầm xô nước. Người ấy liền hỏi: “Ngài làm gì với bó đuốc và xô nước vậy?” Vị thiên thần đột ngột đứng lại nhìn vào người ấy nói: “Ta sẽ thiêu rụi các tòa nhà trên trời bằng bó đuốc và sẽ dập tắt lửa hỏa ngục bằng xô nước. Lúc đó chúng ta sẽ thấy được ai là kẻ thực sự yêu mến Thiên Chúa”.
Chủ ý của vị thiên thần muốn nói là nhiều người vâng theo lệnh Chúa là vì sợ hoả ngục hoặc vì hy vọng phần thưởng Nước trời. Họ không giữ huấn lệnh ấy vì yêu thương như Đức Giêsu đã nêu ra trong Tin mừng hôm nay: “Nếu các con yêu mến Thầy, các con sẽ vâng giữ lời Thầy”.
Có hai loại tình yêu: tình yêu vô vị lợi hay vị tha và tình yêu vị lợi hay vị kỷ.
a) Tình yêu vô vị lợi
Đây là thứ tình yêu vị tha, một thứ tình yêu chỉ biết cho đi, chỉ lo tìm hạnh phúc cho người yêu, tình yêu không so đo tính toán, tình yêu quảng đại; và tình yêu vị tha lên đến chóp đỉnh là sẵn sàng chết cho người mình yêu như Chúa Giêsu đã nói: “Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của người chết cho người yêu” (Ga 15,13). Tình yêu này là tình yêu của Thiên Chúa dành cho loài người và đã được thực hiện nơi Đức Giêsu chịu treo trên thập giá.
Người đời cũng nói lên được một phần nào thứ tình yêu vô vị lợi ấy:
Yêu anh cốt rũ xương tàn,
Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh.
hoặc:
Yêu nhau mỗi thứ mỗi cho,
Ghét nhau thì mảnh quạt mo cũng đòi. (Ca dao)
Truyện: Cha Maximilien Kolbe
Cha Maximilien Kolbe làm gương cho chúng ta về cung cách sống của người môn đệ Chúa: Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1941 tại trại tập trung Auschwitz của Đức quốc xã, có một người vượt ngục, 10 người khác bị xử thay vào. Các nạn nhân run rẩy bước ra, đứng không vững, khiếp đảm, không dám kêu la, trừ một người kêu ré lên “Ôi vợ và các con tôi”.
Hàng trăm dẫy tù nhân xếp hàng dài im thin thít, hú hồn vì chưa phải tên mình, không một ai dám cựa quậy. Bỗng từ dãy tù nhân bên trái, một người gầy guộc rời hàng bước về phía viên trưởng trại. Mọi người nín thở: chuyện chưa từng có! Viên trưởng trại đặt tay lên súng:
- Anh muốn gì? - Tôi muốn chết thay một người trong bọn họ.
Viên trưởng trại sửng sốt. Y tưởng mình nghe lầm. Nhưng không, người kia thực sự xin được chết thay cho người có vợ và các con đang đợi ở nhà. Sau mấy câu gượng gạo, viên trưởng trại nhượng bộ, chấp nhận lời yêu cầu. Kẻ tình nguyện đó chính là Maximilien Kolbe, một linh mục công giáo. Cha đã được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 10.10.1982 tại Rôma.
b) Tình yêu vị lợi (vị kỷ)
Đây là thứ tình yêu trá hình. Đối tượng của tình yêu không phải là người được yêu mà là chính mình. Người yêu chỉ lợi dụng người được yêu để tìm lợi ích cho mình, cho hạnh phúc của riêng mình; còn người được yêu chỉ là phương tiện được dùng để người yêu khai thác. Tình yêu trá hình này đã được nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine diễn tả trong câu truyện con cáo và con cọp.
Câu truyện đó là con cáo không may bị rơi xuống hố sâu, không cách nào lên được. May thay, một con cọp đi qua, con cáo xin cứu đưa lên. Con cọp tỏ ra thương hại muốn cứu vớt nhưng với điều kiện: khi lên bờ cáo phải chịu cho cọp ăn thịt. Cáo đồng ý. Cọp nhảy xuống hố. Cáo nhảy lên lưng cọp và nhảy ngay lên bờ, biến mất. Cọp lên bờ buồn rầu than: “Chị đã thương em đến thế mà em không biết ơn”.
Như vậy cọp đâu có thương con cáo, chỉ biết thương mình thôi, đã thương sao lại còn đòi ăn thịt cáo? Con người chúng ta đôi lúc cũng vậy. Nhiều khi việc làm của chúng ta có vẻ lo cho người khác, nhằm ích lợi cho người khác, tạo hạnh phúc cho họ, nhưng trong thực tế, họ chỉ có một tình yêu giả tạo. Tình yêu đó được người ta gói ghém trong câu ca dao:
Thương thay những kẻ quạt mồ,
Hại thay những kẻ lấy vồ đập săng (Ca dao)
3. Thái độ của ta đối với Chúa
Nếu thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” thì chúng ta cũng có thể nói được: tình yêu mà không được thể hiện ra bằng hành động cụ thể thì chỉ là thứ tình yêu trên mây gió, một tình yêu èo uột, một tình cảm phớt qua, có khi là một tình yêu trá hình, giả tạo. Tình yêu chân thật đòi hỏi hy sinh như Pierre l’Ermite nói: “Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật”.
Thánh Gioan tông đồ nói: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta” (1Ga 3,16). Nếu yêu là hy sinh, mà giữ luật Chúa là hy sinh, thì yêu là giữ luật Chúa. Tam đoạn luận này rất chặt chẽ, nó nối kết giữa việc yêu Chúa và giữ luật Chúa lại với nhau.
Vậy giữ giới răn Chúa là gì? Giữ giới răn Chúa, nói nôm na ra là giữ đạo, là sống đạo, sống nhân đức tin mà Chúa ban cho chúng ta ngày chịu phép Rửa tội. Chúa nhắc lại đến hai lần: “Nếu các con yêu mến Thầy, các con hãy giữ giới răn của Thầy”, và sau đó Ngài thêm: “Các con là bạn hữu của Thầy nếu các con thực hành điều Thầy truyền dạy”.
Qua lời mời của Chúa, chúng ta thấy rằng giữ giới răn, sống đạo, có thể có hai tâm trạng và hai thái độ: một là giữ đạo vì vụ lợi, giữ đạo cho có lệ gọi là có; hai là giữ đạo vì yêu mến Chúa... Chắc chắn ai cũng giữ đạo vì yêu Chúa, yêu Chúa là chính, còn các mục tiêu khác chỉ là phụ tùy. Đối với từng người, tình yêu đối với Chúa cũng có cấp độ nên việc giữ giới răn cũng có cấp độ. Ta tạm chia thành ba cấp:
* Một là có đạo: Những người đã được chịu phép rửa tội đều được gọi là có đạo, vì họ đã được thanh tẩy, đã được gia nhập Hội thánh Chúa. Nhưng họ sống hời hợt, chỉ có danh nghĩa là Kitô hữu, còn cuộc sống của họ nhiều khi như người ngoại đạo, thậm chí tệ hơn nữa, họ sống như người vô thần. Có những người chỉ đến nhà thờ 3 lần trong đời họ: ngày chịu phép rửa tội, ngày lễ hôn phối và ngày lễ an táng.
* Hai là giữ đạo: Những người này là những Kitô hữu bình thường, giữ luật Chúa, thi hành các bổn phận của một người Kitô hữu như đọc kinh, dự lễ, xưng tội rước lễ, ăn chay kiêng thịt... không có gì đáng trách trong việc giữ đạo... Nhưng họ chỉ sống theo mức bình thường, mức tối thiểu, chưa vươn lên cao hơn.
* Ba là sống đạo: Những người này là những người sống trọn nhiệm vụ của những người Kitô hữu bình thường, nhưng họ còn vươn lên cao hơn, cuộc sống của họ là chứng nhân, những hiện thân của Chúa Kitô. Họ xứng đáng được gọi là Alter Christus. Cuộc sống của họ đã trở nên muối và ánh sáng cho đời. Họ thực hiện lời Chúa Giêsu đã phán: “Sự sáng của các con phải chiếu toả ra chung quanh để người ta trông thấy việc lành các con làm mà phải ngợi khen Cha các con ở trên trời”.
Suy niệm (song ngữ)
6th Sunday of Easter
Reading I: Acts 8:5-8,14-17
Reading II: 1Peter 3:15-18
Chúa Nhật 6 Mùa Phục Sinh
Bài Đọc I: Cv 8,5-8.14-17
Bài Đọc II: 1 Pr 3,15-18
Gospel
John 14:15-21
15 Jesus said to his disciples: “If you love me, you will keep my commandments.
16 And I will ask the Father, and he will give you another Advocate to be with you always,
17 the Spirit of truth, whom the world cannot accept, because it neither sees nor knows him. But you know him, because he remains with you, and will be in you.
18 I will not leave you orphans; I will come to you.
19 In a little while the world will no longer see me, but you will see me, because I live and you will live.
20 On that day you will realize that I am in my Father and you are in me and I in you.
21 Whoever has my commandments and observes them is the one who loves me. And whoever loves me will be loved by my Father, and I will love him and reveal myself to him”.
Phúc Âm
Gioan 14,15-21
15 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy.
16 Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi.
17 Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài; còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con.
18 Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con.
19 Một ít nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các con, các con thấy Thầy vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống.
20 Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con.
21 Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó".
Interesting Details
- This passage is the conclusion of Jesus' response to Philip's request: “Show us the Father”. The beginning (v.15) “love me, keep my commandments" and the end (v.21) “keep my commandments, love me" repeat the same idea but in reverse.
- A Counselor/Advocate/Paraclete (v.16) can mean a spokesman, a mediator, an intercessor, a comforter, a consoler or a helper. Another permanent Counselor is in contrast with Jesus' departure. The Counselor may be seen as continuing the functions of Jesus' earthly ministry for the disciples.
- The Spirit of Truth (v.17) is a moral force put into a person by God, as opposed to the spirit of perversity (Jn 8:44).
- "I live, you will live also" (v.19) refers to living through Jesus, it appears in connection with the eucharistic formula as described in Jn 6:56.
- "In that day" (v.20) refers to the whole period after Jesus' resurrection.
Chi Tiết Hay
- Đoạn Phúc Âm này là phần kết luận khi Chúa Giêsu trả lời câu hỏi của Philiphê: “Xin tỏ cho con thấy Chúa Cha”. Câu đầu (c.15) “yêu mến Thầy, giữ điều răn của Thầy" và câu cuối (c.21) “giữ điều răn của Thầy, yêu mến Thầy" lập lại cùng một ý nhưng lời đảo ngược.
- Đấng Bảo Trợ (c.16) còn có nghĩa là đấng an ủi, đấng hòa giải, đấng chuyển cầu, đấng giúp đỡ, người bào chữa, người bênh vực. Ở đây, một Đấng Bảo Trợ khác và vĩnh viễn tương phản với sự ra đi của Chúa Giêsu. Đấng Bảo Trợ tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu ở thế gian qua các môn đệ.
- Linh Khí Sự Thật (c.17) là sức mạnh của luân lý mà Chúa đã ban cho mỗi người, trái ngược với sự gian dối (Gioan 8:44).
- "Thầy sống và anh em cũng được sống" (c.19) nói lên sự cùng sống với Chúa Giêsu liên kết qua phép Thánh Thể (Gioan 6:56).
- "Ngày đó" (c.20) ám chỉ cả thời gian sau khi Chúa sống lại.
One Main Point
Jesus promises to the believers of his continuing presence through a Counselor, the Spirit of Truth and the Holy Spirit (v.26 later). The world will not know this gift and will oppose to its existence. The reward is for those who love Jesus and keep his commandments of loving one another.
Một Điểm Chính
Chúa Giêsu hứa cùng những kẻ tin là Người sẽ tiếp tục hiện diện qua Đấng Bảo Trợ, qua Thần Khí Sự Thật và trong Thánh Thần (c. 26 kế tiếp). Thế gian sẽ không nhận biết món quà này và sẽ chống lại sự hiện hữu của nó. Phần thưởng chỉ dành cho những ai yêu Chúa và giữ giới răn của Người là thương yêu lẫn nhau.
Reflections
- Have I ever felt the presence of Jesus living in me ? How do I recognize and react to his presence ?
- What are the forces that still keep me lying instead of always telling the truth ?
- If I am an orphan, how do I feel ? What do I need the most ? What should I do ?
Suy Niệm
- Có khi nào tôi cảm nhận được Chúa sống thật trong tôi không ? Làm thế nào tôi nhận ra sự sống ấy và phản ứng của tôi lúc ấy ra sao ?
- Lý do gì làm tôi tiếp tục gian dối thay vì luôn luôn nói sự thật ?
- Nếu tôi mồ côi, tôi cảm thấy thế nào ? Lúc ấy tôi cần gì nhất ? Và tôi phải làm gì ?
Tin liên quan
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Tư tuần 6 Phục sinh - Chúa Thánh Thần là Thầy dạy Kitô hữu (Ga 16,12-15)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Ba tuần 6 Phục sinh - Chúa Thánh Thần là Đấng tố cáo thế gian (Ga 16,5-11)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Hai tuần 6 Phục sinh - Thánh Thần Đấng Bảo Trợ (Ga 15,26-16,4)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Bảy tuần 5 Phục sinh - Cuộc sống thế gian (Ga 15,18-21)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Sáu tuần 5 Phục sinh - Hãy yêu thương nhau (Ga 15,12-27)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Năm tuần 5 Phục sinh - Yêu mến và vâng phục (Ga 15,9-11)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Tư tuần 5 Phục sinh - Sự sống trong Chúa Kitô (Ga 15,1-8)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Ba tuần 5 Phục sinh - Bình an Chúa ban (Ga 14,27-31a)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Hai tuần 5 Phục sinh - Yêu mến (Ga 14,21-26)
- Lời Chúa hằng ngày: Chúa nhật 5 Phục sinh năm A (Ga 14,1-12)

Bài đăng ngày
-64x64.png)


